Khi tìm hiểu điều kiện sản xuất phân phối mũ bảo hiểm, nhiều doanh nghiệp vẫn đang sử dụng thông tin từ những quy định cũ. Đặc biệt là các yêu cầu về ISO 9001, nhân viên kỹ thuật, máy ép vỏ, máy ép xốp và biển hiệu riêng của cửa hàng. Đây từng là những điều kiện được quy định, nhưng không còn là căn cứ pháp lý hiện hành. Muốn hiểu đúng, cần phân biệt rõ giữa “điều kiện kinh doanh” trước đây và nghĩa vụ bảo đảm chất lượng sản phẩm đang được áp dụng hiện nay.
Điều kiện sản xuất phân phối mũ bảo hiểm theo quy định cũ đã hết hiệu lực
Những nội dung như doanh nghiệp sản xuất phải có hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001, phải có ít nhất một nhân viên kỹ thuật trình độ trung cấp hoặc cao đẳng, phải sở hữu dây chuyền ép vỏ, ép lớp hấp thụ xung động và cửa hàng bán lẻ phải có biển hiệu riêng xuất phát từ Nghị định 87/2016/NĐ-CP.
Tuy nhiên, Nghị định 154/2018/NĐ-CP đã bãi bỏ Nghị định 87/2016/NĐ-CP. Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật quốc gia cũng xác định Nghị định 87/2016/NĐ-CP đã hết hiệu lực toàn bộ. Vì vậy, không nên tiếp tục trình bày các yêu cầu của Nghị định này như những điều kiện sản xuất mũ bảo hiểm hoặc điều kiện phân phối mũ bảo hiểm đang bắt buộc hiện nay.

Sự bãi bỏ này không có nghĩa hoạt động sản xuất và kinh doanh mũ bảo hiểm được tự do thực hiện mà không cần kiểm soát. Cách quản lý đã chuyển trọng tâm từ việc áp đặt cứng về mô hình nhà xưởng, nhân sự hoặc trang thiết bị sang việc kiểm soát chất lượng của sản phẩm trước và trong quá trình lưu thông.
Nói cách khác, pháp luật hiện nay quan tâm sâu hơn đến câu hỏi: chiếc mũ được sản xuất ra có thực sự đáp ứng yêu cầu bảo vệ hay không, thay vì chỉ kiểm tra doanh nghiệp có đủ một danh sách máy móc trên giấy tờ hay không.
Điều kiện sản xuất phân phối mũ bảo hiểm hiện nay được xác định như thế nào?
Hiện nay, nền tảng kỹ thuật quan trọng nhất đối với nón bảo hiểm dành cho người đi mô tô, xe máy là QCVN 2:2021/BKHCN, được ban hành kèm theo Thông tư 04/2021/TT-BKHCN.
Quy chuẩn này điều chỉnh hoạt động sản xuất, nhập khẩu, lưu thông và phân phối mũ bảo hiểm dùng cho người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy, xe máy điện, xe đạp điện cùng những phương tiện tương tự. Từ ngày 1/1/2024, mũ bảo hiểm sản xuất trong nước và nhập khẩu phải đáp ứng QCVN 2:2021/BKHCN trước khi lưu thông trên thị trường.

Như vậy, điều kiện sản xuất phân phối mũ bảo hiểm hiện nay cần được hiểu theo hai lớp. Trước hết, tổ chức hoặc cá nhân phải có tư cách kinh doanh phù hợp theo quy định chung. Quan trọng hơn, sản phẩm được sản xuất hoặc đưa ra bán phải đáp ứng đầy đủ quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu hợp quy, ghi nhãn và trách nhiệm lưu giữ hồ sơ chất lượng.
Điều kiện sản xuất mũ bảo hiểm hiện nay
Doanh nghiệp phải kiểm soát sản phẩm ngay từ thiết kế
Sản xuất mũ bảo hiểm không đơn thuần là tạo ra một chiếc vỏ nhựa có hình dáng giống chiếc nón. Cấu trúc bảo vệ của sản phẩm được tạo thành từ sự phối hợp giữa vỏ mũ, lớp hấp thụ xung động, lớp lót, hệ thống quai đeo, khóa cài và kính bảo vệ nếu có.
QCVN 2:2021/BKHCN đặt ra các yêu cầu liên quan đến loại mũ, kết cấu, kích thước, phạm vi bảo vệ, khả năng hấp thụ xung động, độ bền đâm xuyên, độ bền quai đeo, độ ổn định, góc nhìn và đặc tính của kính bảo vệ. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp phải xem xét chất lượng tổng thể của sản phẩm, không thể chỉ quảng cáo bằng tên nguyên liệu như nhựa ABS hoặc xốp EPS.
Vì vậy, điều kiện quan trọng nhất đối với một nhà sản xuất không nằm ở việc sở hữu nhiều thiết bị, mà nằm ở khả năng tạo ra những sản phẩm có chất lượng đồng đều và chứng minh được hiệu năng bằng thử nghiệm.
Mũ phải được thử nghiệm và đánh giá sự phù hợp
Mũ sản xuất trong nước phải được đánh giá sự phù hợp theo phương thức phù hợp với đặc điểm của quá trình sản xuất. Khi dây chuyền đã ổn định, doanh nghiệp có thể áp dụng phương thức 5. Phương thức này kết hợp thử nghiệm mẫu điển hình với đánh giá quá trình sản xuất. Sau đó tiếp tục giám sát thông qua mẫu lấy tại nhà máy hoặc trên thị trường.
Nếu cơ sở sản xuất không hoạt động liên tục, chỉ sản xuất theo từng lô hoặc dây chuyền đang trong giai đoạn hoàn thiện, phương thức 7 có thể được áp dụng để thử nghiệm mẫu đại diện và đánh giá từng lô sản phẩm.
Sự khác biệt giữa hai phương thức cho thấy một nguyên tắc quan trọng: một mẫu mũ đạt thử nghiệm không đồng nghĩa tất cả sản phẩm về sau tự động đạt chất lượng.
Doanh nghiệp phải chứng minh chất lượng được duy trì xuyên suốt quá trình sản xuất hoặc được kiểm soát rõ ràng trên từng lô hàng. Đây chính là nền tảng để hạn chế tình trạng mẫu mang đi thử nghiệm có chất lượng tốt nhưng sản phẩm bán ra thị trường lại bị cắt giảm vật liệu.
Việc thử nghiệm phải được thực hiện bởi tổ chức có thẩm quyền
QCVN 2:2021/BKHCN yêu cầu thử nghiệm phục vụ chứng nhận hợp quy phải do tổ chức thử nghiệm được chỉ định hoặc được thừa nhận theo quy định thực hiện. Phạm vi thử nghiệm của tổ chức đó cũng phải đáp ứng các chỉ tiêu đặt ra trong quy chuẩn.
Doanh nghiệp vẫn nên xây dựng phòng kiểm tra nội bộ để theo dõi nguyên liệu và thành phẩm hằng ngày. Tuy nhiên, kết quả nội bộ phục vụ kiểm soát sản xuất không mặc nhiên thay thế kết quả của tổ chức thử nghiệm có năng lực phục vụ chứng nhận hợp quy.

Mũ sản xuất trong nước phải được công bố hợp quy
Trước khi đưa ra thị trường, mũ sản xuất trong nước phải được công bố hợp quy với QCVN 2:2021/BKHCN và được gắn dấu hợp quy CR.
Doanh nghiệp sản xuất đồng thời phải công bố tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm. Nội dung của tiêu chuẩn do doanh nghiệp công bố không được trái với QCVN và doanh nghiệp phải bảo đảm sản phẩm phù hợp với cả quy chuẩn bắt buộc lẫn tiêu chuẩn mà chính mình đã công bố.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với khách hàng đặt mũ số lượng lớn. Nhà cung cấp không nên chỉ gửi một hình ảnh dấu CR. Hồ sơ cần thể hiện rõ sản phẩm hoặc phạm vi sản phẩm được chứng nhận, đơn vị chứng nhận và số giấy chứng nhận tương ứng.
ISO 9001 có còn là điều kiện bắt buộc không?
Cơ sở sản xuất có hệ thống quản lý chất lượng được xây dựng, áp dụng đáp ứng các yêu cầu quy định của tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001.
ISO 9001 không còn là điều kiện kinh doanh riêng bắt buộc đối với nhà sản xuất mũ bảo hiểm theo Nghị định 87/2016/NĐ-CP, bởi Nghị định này đã bị bãi bỏ toàn bộ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa hệ thống quản lý chất lượng trở nên không cần thiết. Ngược lại, khi áp dụng phương thức 5, quá trình sản xuất phải được đánh giá và giám sát. Một hệ thống quản lý chất lượng được tổ chức bài bản sẽ giúp doanh nghiệp kiểm soát nguyên liệu, công thức sản xuất, khuôn mẫu, thông số máy, hồ sơ lô hàng và sản phẩm không phù hợp hiệu quả hơn.
Vì vậy, ISO 9001 nên được nhìn nhận là một công cụ quản trị có giá trị, nhưng không nên quảng cáo sai rằng đây vẫn là điều kiện pháp lý riêng bắt buộc để được sản xuất mũ bảo hiểm.
Điều kiện về cấu tạo và chất lượng sản phẩm
Khả năng hấp thụ xung động là giá trị cốt lõi
Vỏ mũ tham gia phân tán lực trên một vùng rộng hơn, trong khi lớp đệm hấp thụ xung động được thiết kế để biến dạng có kiểm soát và tiêu hao một phần năng lượng. Vì vậy, vỏ cứng chưa chắc đồng nghĩa với bảo vệ tốt, còn lớp xốp dày chưa chắc đạt hiệu quả nếu mật độ và cấu trúc không phù hợp.
QCVN yêu cầu sản phẩm phải được đánh giá về độ bền va đập và khả năng hấp thụ xung động. Đồng thời kiểm tra phạm vi bảo vệ của vỏ mũ và lớp đệm bên trong.
Quai đeo và khóa cài phải duy trì độ ổn định
Quai đeo và độ ổn định của mũ được xem là những chỉ tiêu kỹ thuật bắt buộc. Hệ thống quai khóa phải giữ mũ đúng vị trí, đồng thời vẫn thuận tiện để người dùng cài và điều chỉnh đúng cách. Trong thực tế sản xuất, chất lượng dây quai, đường may, điểm liên kết, khóa và đinh tán cần được kiểm soát đồng bộ. Chỉ một chi tiết yếu cũng có thể làm giảm hiệu quả của toàn bộ hệ thống giữ mũ.

Bề mặt mũ không được xuất hiện chi tiết nguy hiểm
Bề mặt ngoài của vỏ và các bộ phận đi kèm phải nhẵn, không có vết nứt hoặc cạnh sắc. Đinh tán, bu lông, vít và đai ốc cũng phải được xử lý để không tạo thành điểm sắc nhọn có khả năng gây thương tích.
Nhãn ghi trên mũ bảo hiểm
Nhãn hàng hóa là một trong những căn cứ giúp khách hàng nhận biết sản phẩm có nguồn gốc và đơn vị chịu trách nhiệm rõ ràng hay không.
Theo QCVN 2:2021/BKHCN, trên mũ và bao bì phải có nhãn rõ ràng, dễ đọc và không dễ bong, rách hoặc mờ. Nội dung phải thể hiện tên hàng hóa, tên và địa chỉ tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm, xuất xứ, tháng năm sản xuất, kiểu mũ, trọng lượng mũ, hướng dẫn sử dụng và thông tin cảnh báo nếu có
Đối với mũ nhập khẩu, khi nhãn gốc chưa thể hiện đầy đủ nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt, sản phẩm phải có nhãn phụ bổ sung thông tin và tên, địa chỉ đơn vị nhập khẩu. Nhãn gốc của sản phẩm vẫn phải được giữ nguyên.
Dấu CR trên mũ bảo hiểm phải được thể hiện như thế nào?
Dấu CR phải được thể hiện rõ ràng, dễ nhận biết và có thể được in trực tiếp trên mũ hoặc trên vật liệu không thấm nước gắn với mũ. Dấu không được dễ bong, rách hoặc mờ trong quá trình vận chuyển và sử dụng.
Đáng chú ý, dấu CR phải đi kèm tối thiểu tên viết tắt hoặc logo của tổ chức chứng nhận và số giấy chứng nhận. Vì vậy, một biểu tượng CR đứng riêng lẻ, không có thông tin liên quan, chưa đủ để khách hàng xác minh nguồn gốc của hoạt động chứng nhận.
Điều kiện phân phối mũ bảo hiểm hiện nay
Đơn vị phân phối chỉ được bán sản phẩm đáp ứng quy chuẩn
QCVN 2:2021/BKHCN áp dụng trực tiếp cho cả doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hộ gia đình phân phối mũ bảo hiểm.
Tổ chức, cá nhân phân phối phải chịu trách nhiệm bán sản phẩm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và yêu cầu quản lý của quy chuẩn. Mũ lưu thông trên thị trường phải phù hợp QCVN, phù hợp tiêu chuẩn mà nhà sản xuất công bố và chịu sự kiểm tra nhà nước về chất lượng. Điều này có nghĩa cửa hàng không thể hoàn toàn chuyển trách nhiệm cho nhà sản xuất bằng lý do “chỉ nhập về bán”. Trước khi kinh doanh, người bán cần kiểm tra nguồn hàng, nhãn, dấu CR và hồ sơ liên quan.

Nơi bán phải lưu giữ bản sao giấy chứng nhận hợp quy
Tổ chức hoặc cá nhân phân phối có trách nhiệm thông báo công khai tên và địa chỉ bán mũ, đồng thời lưu giữ tại nơi bán bản sao sao y bản chính giấy chứng nhận hợp quy do doanh nghiệp sản xuất hoặc nhập khẩu cung cấp. Đây là một trong những nội dung khách hàng ít biết nhưng rất quan trọng. Khi mua số lượng lớn, khách hàng hoàn toàn có cơ sở để đề nghị đơn vị bán cung cấp thông tin chứng nhận của sản phẩm.
Điều kiện nhập khẩu mũ bảo hiểm
Mũ nhập khẩu phải được kiểm tra nhà nước về chất lượng theo quy định và được gắn dấu hợp quy CR trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường. Hoạt động đánh giá có thể được thực hiện theo phương thức 7 đối với từng lô chưa được chứng nhận hoặc theo phương thức 5 tại cơ sở sản xuất nước ngoài khi đáp ứng điều kiện áp dụng. Doanh nghiệp nhập khẩu phải lưu giữ hồ sơ chất lượng và giấy chứng nhận hợp quy, công khai danh sách địa chỉ bán hàng và cung cấp bản sao giấy chứng nhận cho các địa chỉ phân phối.

Như vậy, việc một sản phẩm đã được bán ở nước ngoài hoặc có chứng nhận của thị trường khác không có nghĩa sản phẩm tự động được phép lưu thông tại Việt Nam. Sản phẩm vẫn phải đáp ứng các thủ tục và yêu cầu kỹ thuật được pháp luật Việt Nam áp dụng.
Doanh nghiệp đặt in mũ bảo hiểm cần lưu ý điều gì?
Đặt mũ bảo hiểm in logo khác hoàn toàn với đặt ly, áo mưa hoặc túi vải quảng cáo. Logo doanh nghiệp được đặt trên một sản phẩm liên quan trực tiếp đến an toàn người sử dụng. Vì vậy chất lượng nền của chiếc mũ phải được xác định trước khi triển khai nhận diện thương hiệu.
Việc in logo không thể biến một chiếc mũ không đạt quy chuẩn thành sản phẩm hợp pháp. Doanh nghiệp cần yêu cầu nhà cung cấp cung cấp mẫu thực tế, thông tin hợp quy, nhãn hàng hóa và phạm vi sản phẩm được chứng nhận trước khi duyệt sản xuất hàng loạt.

Logo và nội dung quảng cáo cũng không nên che khuất dấu CR, nhãn bắt buộc hoặc thông tin truy xuất. Quá trình sơn, in, dán hoặc hoàn thiện phải được kiểm soát để không làm ảnh hưởng đến vỏ mũ, lớp liên kết và cấu trúc ban đầu.
Nếu đơn hàng có thay đổi về form vỏ, vật liệu, lớp xốp, kính, quai khóa hoặc kết cấu kỹ thuật, doanh nghiệp nên yêu cầu nhà sản xuất xác nhận lại phạm vi đánh giá hợp quy. Theo QCVN, một kiểu mũ được xác định trên cơ sở cùng loại, cùng cỡ, cùng thiết kế và cùng vật liệu.
Những hiểu lầm thường gặp về điều kiện sản xuất mũ bảo hiểm
Có nhà máy lớn đồng nghĩa sản phẩm tự động đạt chuẩn
Quy mô nhà xưởng không thay thế kết quả thử nghiệm. Một doanh nghiệp sở hữu nhiều máy móc nhưng không kiểm soát tốt vật liệu và quy trình vẫn có thể tạo ra sản phẩm không đồng đều. Ngược lại, giá trị của nhà máy nằm ở khả năng duy trì chất lượng giữa mẫu thử và hàng nghìn sản phẩm được giao đến khách hàng.
Có ISO 9001 là đủ để bán mũ bảo hiểm
ISO 9001 phản ánh hệ thống quản lý chất lượng, không phải chứng nhận rằng từng kiểu mũ đã đáp ứng QCVN 2:2021/BKHCN. Doanh nghiệp có ISO vẫn phải thực hiện thử nghiệm, chứng nhận hoặc đánh giá sự phù hợp, công bố hợp quy và gắn dấu CR cho sản phẩm theo quy định.
Cửa hàng chỉ bán nên không chịu trách nhiệm
QCVN quy định rõ tổ chức, cá nhân phân phối phải chịu trách nhiệm bán mũ đáp ứng quy định kỹ thuật và quản lý, đồng thời phải lưu giữ bản sao giấy chứng nhận hợp quy tại nơi bán. Vì vậy, việc lựa chọn nguồn hàng không chỉ là quyết định thương mại. Đây còn là nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm đối với sự an toàn của người tiêu dùng.
Khi tìm hiểu điều kiện sản xuất phân phối mũ bảo hiểm, doanh nghiệp và khách hàng cần đặc biệt lưu ý rằng Nghị định 87/2016/NĐ-CP đã bị bãi bỏ. Trọng tâm quản lý hiện nay nằm ở chất lượng sản phẩm. Mũ bảo hiểm phải đáp ứng QCVN 2:2021/BKHCN, được đánh giá sự phù hợp, công bố hợp quy, gắn dấu CR, ghi nhãn đầy đủ và duy trì chất lượng trong quá trình lưu thông. Đơn vị phân phối phải lựa chọn sản phẩm phù hợp quy chuẩn, công khai địa chỉ bán và lưu giữ bản sao giấy chứng nhận hợp quy tại nơi kinh doanh.
Thông tin theo VPCP

